Dưới đây là đánh giá chi tiết về các nguyên nhân khiến Tiền số Ngân hàng Trung ương (CBDC) gặp khó khăn trong việc phát triển và tích hợp vào hệ thống ASEAN mBridge kết hợp chuẩn thông điệp ISO 20022, đi kèm kế hoạch cải cách chuyển đổi số hóa dựa trên cấu trúc bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013.
PHẦN 1: ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ CBDC KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP ASEAN mBridge + ISO 20022
Việc triển khai CBDC và tích hợp vào hạ tầng thanh toán xuyên biên giới khu vực (mBridge) sử dụng chuẩn dữ liệu tài chính toàn cầu (ISO 20022) hiện đối mặt với các điểm nghẽn cốt lõi sau:
1. Điểm nghẽn về khung pháp lý và tuân thủ quốc tế:
Hệ thống pháp luật hiện hành chưa có hành lang pháp lý chính thức định nghĩa và thừa nhận CBDC là một hình thức tiền pháp định bên cạnh tiền mặt truyền thống.
Sự xung đột giữa quyền bảo mật dữ liệu cá nhân của người dân với các tiêu chuẩn khắt khe về phòng, chống rửa tiền (AML) và tài trợ khủng bố (CFT) mà các nền tảng xuyên biên giới như mBridge yêu cầu.
2. Sự lạc hậu về hạ tầng công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật:
Hệ thống lõi (core banking) của phần lớn các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa tương thích đồng bộ với chuẩn định dạng dữ liệu thanh toán quốc tế ISO 20022.
Thiếu nền tảng hạ tầng công nghệ sổ cái phân tán (DLT) có độ bảo mật cao, khả năng mở rộng lớn và khả năng liên thông trực tiếp với hệ thống multi-CBDC của các quốc gia khác trong khu vực (mBridge).
3. Rủi ro bất ổn vĩ mô và dịch chuyển nguồn vốn:
Nếu phát hành CBDC diện rộng mà không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, hiện tượng người dân rút tiền ồ ạt từ hệ thống ngân hàng thương mại sang CBDC (bank disintermediation) có thể xảy ra, gây suy giảm thanh khoản hệ thống tín dụng. Điều này làm tê liệt cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
PHẦN 2: KẾ HOẠCH CẢI CÁCH CHUYỂN ĐỔI SỐ HÓA GẮN VỚI BỘ MÁY NHÀ NƯỚC (HIẾN PHÁP 2013)
Để khắc phục các điểm nghẽn trên và đủ điều kiện hội nhập ASEAN mBridge + ISO 20022, cần thực hiện một kế hoạch cải cách đồng bộ, phân công rõ trách nhiệm cho từng thiết chế trong bộ máy nhà nước:
1. Cơ quan Lập pháp: Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- Sửa đổi và bổ sung luật: Sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự để chính thức công nhận pháp lý đối với VNLH và tài sản số.
- Lập pháp hóa tiêu chuẩn quốc tế: Ban hành các nghị quyết, đạo luật chuyên đề tích hợp tiêu chuẩn an toàn dữ liệu, chuẩn thông điệp tài chính ISO 20022 vào luật pháp quốc gia.
- Giám sát tối cao: Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội giám sát tiến trình phân bổ nguồn lực công cho chiến lược chuyển đổi số quốc gia và tích hợp mBridge.
2. Cơ quan Hành pháp: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành
Chính phủ & Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chiến lược quốc gia về phát triển Tiền số Ngân hàng Trung ương và hội nhập thanh toán xuyên biên giới ASEAN".
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV):
Đóng vai trò chủ lực kỹ thuật: Xây dựng khung thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox) cho VNLH bán lẻ và sỉ.
Nâng cấp toàn diện hạ tầng thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) đạt chuẩn ISO 20022 và kết nối kỹ thuật trực tiếp với nền tảng ASEAN mBridge.
Bộ Tài chính & Bộ Công an: Phối hợp xây dựng hệ thống giám sát dòng vốn, kiểm soát rủi ro rửa tiền (AML/CFT), tội phạm công nghệ cao và bảo vệ an ninh mạng tài chính quốc gia.
3. Hệ thống Tư pháp: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp
- Xây dựng năng lực xét xử chuyên biệt: Đào tạo đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên am hiểu về luật công nghệ thông tin, hợp đồng thông minh (smart contracts) và tranh chấp tài sản số xuyên biên giới.
- Thực thi công lý nghiêm minh: Đảm bảo giải quyết nhanh chóng, minh bạch các tranh chấp pháp lý phát sinh từ hệ thống giao dịch VNLH và các sự cố an ninh mạng.
4. Cơ quan độc lập do Quốc hội thành lập: Kiểm toán nhà nước
- Kiểm toán hoạt động công nghệ: Thực hiện kiểm toán độc lập đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, các nguồn lực công nghệ đầu tư cho hạ tầng VNLH và tích hợp mBridge nhằm phòng ngừa tham nhũng, thất thoát.
5. Hệ thống Chính quyền địa phương (3 cấp: Tỉnh, Huyện, Xã)
Cấp Tỉnh/Thành phố trực thuộc trung ương: Triển khai các đề án thành phố thông minh, tích hợp cổng dịch vụ công với hệ thống thanh toán số đạt chuẩn, thúc đẩy phổ cập tài chính (financial inclusion) tại địa phương.
Cấp Huyện và Cấp Xã/Phường/Thị trấn: Đóng vai trò cầu nối đưa công nghệ thanh toán số và kiến thức về tài chính số đến tận tay người dân ở vùng sâu, vùng xa, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số.